Phân tích tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành

Nguyễn Trung Thành là nhà văn có duyên nợ gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên. Qua hai cuộc kháng chiến cùng vào sinh ra tử với những người dân nơi đây đã cung cấp cho Nguyễn Trung Thành một vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng về mảnh đất âm vang rộn tiếng cồng chiêng trong mùa lễ hội, nơi có những người con trung dũng, kiên cường.

Phan tich tac pham Rung xa nu

Nếu trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trung Thành – bút danh Nguyên Ngọc nổi tiếng cùng “Đất nước đứng lên”; thì trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là những năm 1965 khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam đang diễn ra gay go ác liệt thì Nguyễn Trung Thành cho ra mắt người đọc truyện ngắn “Rừng xà nu”. Tác phẩm này đã là một bản hùng ca, ca ngợi cuộc sống và con người Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh vĩ đại. Và nổi bật hơn cả trong tác phẩm chính là hình tượng cây xà nu.

Cây xà nu là một hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Xuyên suốt trong tác phẩm ta bắt gặp những cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Cây xà nu là một loài cây quen thuộc, có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân Tây Nguyên. “Củi xà nu cháy trong mỗi bếp lửa gia đình, khói xà nu nhuộm bảng đen cho con trẻ học chữ, đuốc xà nu rọi sáng sân nhà Ưng trong những đêm lễ hội…”. Tất cả mọi hoạt động dù lớn dù nhỏ của người dân Tây Nguyên đều có sự góp mặt của cây xà nu. Sự sống của dân làng Xô Man đều gắn liền với những cánh rừng xà nu. Khi Nguyễn Trung Thành viết : “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc, chúng nó bắn đã thành lệ, ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn”, nhà văn đã phản ảnh không khí căng thẳng của thời đại, gợi lên sự đối mặt quyết liệt giữa sự sống và cái chết. Nổi bật trên nền bối cảnh ấy, Nguyễn Trung Thành đã đi sâu miêu tả những đặc điểm nổi bật của câu xà nu. Cũng như bao loài cây khác, cây xà nu là một loài cây ham ánh sáng và khí trời “trong rừng ít có loài cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ đến vậy… ít có loài cây nào ham ánh sáng đến thế” cũng có nghĩa là ham sống, khao khát muốn được vươn lên giữa bầu trời cao rộng.

Thế nhưng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, cũng như bao cánh rừng khác của Việt Nam, rừng xà nu đã bị tàn phá rất dữ dội “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão; ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm lại đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Tuy vậy, bất chấp mọi sự tàn phá huỷ diệt của chiến tranh, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt “cạnh cây mới ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Tư thế vươn lên mạnh mẽ ấy của cây xà nu như để thách thức với bom đạn của chiến tranh “đố chúng nó giết được cây xà nu đất ta”. Sức sống mãnh liệt đã giúp những cánh rừng xà nu vươn lên trong một màu xanh, hiện lên hiên ngang, kiêu dũng như một tráng sĩ “cứ thế hai ba năm sau, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng Xô man”.

Bằng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, Nguyễn Trung Thành đã dựng lên thật thành công và rõ nét, ấn tượng về hình tượng cây xà nu. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trung Thành còn đặt hình tượng cây xà nu vào trong quan hệ đối chiếu sóng đôi với con người mảnh đất Tây Nguyên. Nếu cây xà nu là một loại cây ham ánh sáng và khí trời, thì người dân Tây Nguyên yêu tự do, tin vào Đảng, đi theo bước chân cách mạng như muôn cây vẫn hướng vào ánh sáng mặt trời. Nếu cây xà nu bị tàn phá, huỷ diệt bởi đạn bom, khói lửa thì những người dân Tây Nguyên phải chịu bao đau thương mất mát do chính kẻ thù gây ra. Bao nhiêu người bị giặc giết chết như những cây xà nu bị chặt đứt ngang nửa thân mình, bao nhiêu người còn sống mà phải mang trong mình bao nỗi thương đau. Bằng cách miêu tả hình ảnh cây và người trong quan hệ sóng đôi như thế, Nguyễn Trung Thành đã khắc sâu tội ác dã man của kẻ thù để qua đó tác giả giúp ta hình dung rõ hơn những thảm cảnh dân ta phải chịu do bọn giặc gây ra.
Cũng giống như những cánh rừng quê hương, như những con người Việt Nam vẫn ý thức được rằng:

“Gươm nào chia được dòng Bến Hải
Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn
Căm hờn lại giục căm hờn
Máu kêu trả máu đầu van trả đầu”

Các thế hệ nhân dân Tây Nguyên đã thay nhau tiếp nối đứng lên. Ánh sáng của niềm tin “Đảng còn thì núi nước này còn” đã soi đường chỉ lối cho những bước chân đến với cách mạng. Thế hệ này ngã xuống, thế hệ sau tiếp nối đứng lên; anh Sút bà Nhan bị giặc giết, đi thay họ tiếp tế nuôi quân đã có T’Nú và Mai. Cứ như thế, các thế hệ người Tây Nguyên đã thay nhau giữ vững ngọn lửa truyền thống, thay nhau giữ vững ý chí đánh giặc kiên cường, để giữ làng, giữ nước của dân làng Xô man nói riêng và của người Tây Nguyên nói chung.

Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Trung Thành, cây xà nu hiện lên sừng sững, đồng hành với những bước đi, cuộc sống của dân làng Xô man. Gắn bó với cánh rừng anh dũng, kiêu hùng, những người dân Tây Nguyên như được tiếp thêm sức mạnh để đứng lên chiến đấu. Và gắn bó với con người Tây Nguyên ân tình, thuỷ chung, trung dũng như thế. Cây xà nu cũng luôn luôn sánh bước cùng họ để họ có cuộc sống bình yên hơn; để “hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn” chứ không nhằm vào những người dân vô tội lầm than.

Cây xà nu là hình tượng mang đậm chất lý tưởng, tiêu biểu cho phẩm chất, số phận của người dân Tây Nguyên. Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm mang đậm chất sử thi, tính hào hùng, nó làm rõ chủ đề tư tưởng của truyện ngắn “Rừng xà nu”. Để xây dựng một hình tượng xà nu như thế, Nguyễn Trung Thành đã sử dụng những câu văn miêu tả, những từ ngữ, hình ảnh chọn lọc đặc sắc, cùng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, giọng văn miêu tả trong tác phẩm rất linh hoạt.

Có đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp hình tượng cây xà nu. Hình tượng này đã góp phần tạo nên một “Rừng xà nu” trọn vẹn, mang đậm giá trị văn học. Nguyễn Trung Thành đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học dân tộc.

TAG: phan tich tac pham rung xa nu

Nguồn: Online News – Tin tức Online
 

Các bài khác

Advertisements

Những kiểu tóc bối đẹp nhất

Tóc búi cao, một phong cách rất đa-zi năng đang được các bạn gái trẻ “chuộng” nhất trong mùa hè này. Các cô nàng vừa cảm thấy thoái mái khi dạo phố, nhưng cũng không kém phần kiêu sa khi tham dự các bữa tiệc trang trọng.

Tuy nhiên khi đi kèm với mỗi kiểu trang phục hay vóc dáng, khuôn mặt khác nhau, thì kiểu tóc “đa-di-năng” này lại có thể tạo cho người mặc những nét cá tính rất riêng biệt. Điều này có thể nhìn thấy ngay được qua cách áp dụng tóc búi của sao Việt nhà mình. Các sao không chỉ áp dụng kiểu tóc đơn giản này cho phong cách đời thường, mà còn rất biết tận dụng chúng cùng những trang phục dự tiệc tinh tế, tạo nên vẻ ngoài tự nhiên pha chút nét cá tính, nhưng cũng không kém phần kiêu sa và lộng lẫy.

Anh Thư gây ấn tượng mạnh bằng vẻ đẹp mặn mà của mình khi kết hợp tóc búi cao với váy đen sang trọng và màu son đỏ quyến rũ.

Diễm Hương vừa tươi trẻ, lại vừa gợi cảm với mái tóc búi cao và chiếc váy bandage tôn dáng.

Linh Nga sở hữu một khuôn mặt với những đường nét thanh tú, bởi vậy mái tóc búi cao kết hợp cùng những trang phục dự tiệc tinh tế đã càng tôn lên vẻ đẹp kiêu sa của chị ấy.

Phương Linh cũng khiến các fan “mê mẩn” với vẻ cá tính mình khi búi tóc cao để lộ khuôn mặt xinh đẹp.

Ngọc Oanh sang trọng và đầy “bí ẩn” với mái tóc búi cao cùng đầm đen quyến rũ.

Quỳnh Anh trưởng thành và “quý phái” hơn trong chiếc đầm dài thướt tha và tóc búi cao có mái kiểu vintage.

Thanh Hằng trông thật thời thượng khi kết hợp tóc búi cao với áo tank đen và chân váy da rắn.

Ngô Thanh Vân luôn “gắn chặt” với kiểu tóc búi cao. Dù là trên sân khấu

TAG: kieu toc boi dep

nhung kieu toc boi dep

nhung kieu toc boi dep nhat

Nguồn: Onlinenews.vn
 

Các bài khác

Thuyết minh về cây tre (Những bài văn mẫu)

Bài văn thuyết minh về cây tre được cô giáo chấm 9 điểm. Nhập đề của bài văn rất hay: “Cây tre gắn bó với người nông dân Việt Nam từ hàng nghìn năm rồi. Hình ảnh làng quê Việt Nam từ xưa gắn liền với luỹ tre làng – những bụi tre gai ken dày chắn gió bão thiên tai và che chắn cho mỗi làng Việt trước trộm đạo, giặc cướp và kẻ xâm lược – nhân tai.

Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm. Thế nhưng những năm gần đây, có một thực tế đáng buồn là loại cây đa dạng, thiết thực trong mọi mặt đời sống này đã bị coi nhẹ, bị chặt phá, bị thoái hoá… bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

Về tính năng, không thể kể hết tính đắc dụng của tre đối với người dân Việt Nam: làm nhà cửa (vì kèo, lanh tô, phên liếp, vách tường…), làm vô số vật dụng: cái cần câu, cái vó cất tôm cất tép, cái đó, bè mảng, cái cầu ao và cả những cái cầu bắc qua những con mương, con kênh nhỏ; làm chông, làm tên bắn chống giặt ngoại xâm…

Tre từng được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng: bàn ghế, giường chõng, các loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh và đôi quang (thứ vật liệu đa dụng để gánh mọi thứ ra đồng và gánh lúa từ đồng về nhà, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh” thông thoáng để bảo quản thức ăn và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) đến cái khung cửi, cái xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước, cái bừa, cái cào, cái ách khoác lên cổ con trâu cày đến con dao cật nứa cắt rốn lúc chào đời, cái quạt nan, đôi đũa, cái tăm… nhiều thứ vật dụng làm bằng tre còn được dùng đến ngày nay.

Đấy là còn chưa nói tới các loại vật dụng của nhà nông, cũng như nhiều loại vũ khí thời xưa của cha ông ta đều có phần cán, phần tay cầm làm bằng một loại cây nào đó thuộc họ tre. Cây gậy tầm vông thời đánh Pháp xâm lược là một chứng tích đã đi vào lịch sử. Cây nêu dựng lên trước cửa nhà vào dịp năm mới thời xưa để trừ ma quỷ, cái ống đựng bút và quản bút lông của các nhà nho mà những năm gần đây về nơi thôn dã ta còn thấy, đến những cánh diều mà hôm nay con trẻ còn chơi… tất cả đều làm từ tre. Vật dụng ngày càng có vẻ thuận tiện hơn, có vẻ đẹp đẽ hơn đã đẩy chúng ta xa rời thứ cây nhiều lợi ích như thế. Thậm chí có một thời ấu trĩ, người ta đã chặt đi những bụi tre gai quanh làng với lý do là chúng làm đất bạc màu.Những rặng tre rợp bóng ở đường làng, nghiêng xuống nơi bờ ao không còn mấy nữa. Nhiều người quên mất rằng bao đời tổ tiên người Việt khai phá đồng bằng Bắc Bộ được như ngày hôm nay là do đắp đê chống lụt, trị thuỷ. Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của người Việt xưa bao đời bồi đắp, thì còn có phần công sức của những bụi tre có tác dụng giữ đất, chống xói lở.

Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các neỏ đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả_ được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,…Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau,nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…”

“Tre xanh, xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”

Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m , ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.

Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.

Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phài ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng_ hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Àn xâm lược đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ, đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh.

Mặt khác, hình tượng của cậu bé Thánh Gióng vươn vai hóa thân thành người khổng lồ rất có thể liên quan đến khả năng sinh trưởng rất nhanh của cây tre (theo các nhà Thực vật học, thì cây tre phát triển điều kiện lý tưởng, có thể cao thêm từ 15 -20cm mỗi ngày). Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, các lũy tre xanh đã trở thành “pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai, đồng hóa. Tre thật sự trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn côngtrong các cuộc chiến. Chính những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán. Chính ngọn tầm vông góp phần rất lớn trong việc đánh đuổi quân xâm lược để giàng Độc lập_ Tự do cho Tổ Quốc. “ Tre giữ làng, giữ nước, giừ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín,…”

Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre : “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như : đàn tơ tưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.

Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng : đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.

Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng : “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước_tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên ường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.

TAG: thuyet minh ve cay tre

 

Các bài khác

Phân tích tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia

Cái chết của Cụ tổ và đám tang được kể trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (“Số đỏ” – Vũ Trọng Phụng) là đáng khóc hay đáng cười? Vì sao?

phan tich tac pham hanh phuc cua mot tang gia

Vũ Trọng Phụng (1912-1939) với 27 tuổi đời, 10 năm cầm bút, nhưng sự nghiệp văn chương của ông để lại cho đời thật vô cùng lớn lao: 7 tập phóng sự, 9 cuốn tiểu thuyết, 6 vở kịch và khoảng 30 truyện ngắn. Hơn nửa thế kỉ trước, ông từng được ca ngợi là “ông vua phóng sự đất Bắc”, là một “văn tài lỗi lạc” (Lưu Trọng Lư), là một “thiên tài” (Thanh Châu)… Tiểu thuyết “Số đỏ”, “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng được đánh giá là kiệt tác văn chương trong nền văn học Việt Nam hiện đại.

Vũ Trọng Phụng viết “Số đỏ” vào năm 1936, qua nhân vật Xuân Tóc Đỏ, một tên hạ lưu, một gã “ma cà bông”, ông đả kích cay độc cái xã hội trưởng giả tư sản thành thị đang chạy theo lối sống “Âu hóa” văn minh rởm, hết sức đồi bại, nhố nhăng đương thời.

Mỗi chương trong “Số đỏ” đều được đặt những cái tên trào phúng châm biếm sâu cay. Cuốn tiểu thuyết gồm 20 chương; chương 15 mang cái tên rất dài: “Hạnh phúc của một tang gia”- Văn minh nữa cũng nói vào một đám ma gương mẫu”. Chương này kể về cái chết và đám ma Cụ tổ như một màn bi hài kịch. Có biết bao tình tiết, biết bao bộ mặt xuất hiện trong đám ma khác nào những vai hề. Cái chết của Cụ tổ và đám ma vừa đáng khóc vừa đáng cười. Khóc vì đạo lí suy đồi đến cực độ. Cha chết, ông chết mà “bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thỏa thích”. Cái chết của ông già hơn 80 tuổi “đã làm cho nhiều người sung sướng lắm. Ai cũng nghĩ đến cái lợi do cái chết và đám tang của Cụ tổ mang lại, đúng là “Hạnh phúc của một tang gia”. Sự báo hiếu của bọn con cháu của Cụ tổ chỉ là để khoe giàu, khoe sang với thiên hạ. Cái chết và đám ma Cụ tổ như một đám rước, với bao vai hề hiện lên dưới ngòi bút trào phúng, châm biếm đả kích của tác giả “Số đỏ” sao không đáng cười?

Cái chết của Cụ tổ được bọn con cháu mong đợi từ lâu. Trong lúc Cụ tổ ốm thập tử nhất sinh, đốc tờ Xuân chỉ dùng một lọ nước ao tanh bẩn, mấy lá thài lài và rau sam – thuốc thánh đền Bia, thế mà Cụ tổ, chỉ độ nửa giờ sau khi dùng thuốc “đã tỉnh táo khác thường”, tự ngồi dậy được, ăn được nửa bát cháo. Và cũng chỉ bằng một câu chào: “Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng!”, Xuân đã làm cho Cụ tổ “nấc một cái to, ngã xuống giường”, bất đắc kì tử! Ông già hơn 80 tuổi, trước lúc nhắm mắt còn giăng giối: “Để ta chết! Sống cũng nhục! Có chạy chữa thì chạy chữa cho cái thanh danh nhà tao mà bọn chúng mày đã trót bôi nhọ! Thế!”. Cái chết của Cụ tổ vừa đáng khóc vừa đáng cười. Văn Minh, cháu đích tôn của Cụ tổ cứ băn khoăn mãi về tội và ơn của Xuân Tóc Đỏ: “Xuân tuy phạm tội quyến rũ em gái ông, tố cáo cái tội trạng hoang dâm của một em gái khác nữa của ông, nhưng tình cờ đã gây ra cái chết của ông cụ già đáng chết. Hai cái tội nhỏ, một cái ơn to… Làm thế nào?” Cái băn khoăn ấy của Văn Minh sao không đáng khóc và đáng cười.

Đám tang của Cụ tổ khác nào một đám rước? Có kiệu bát cống, có lợn quay che lọng. Có kèn ta, kèn tàu, kèn tây. Còn có hai viên quan chức nhà nước Min-đơ, Min-toa giữ trật tự! Bọn con cháu hạnh phúc lắm, sung sướng lắm! Cụ cố Hồng hút liền một chặp 60 điếu thuốc phiện, gắt 1872 câu gắt: “Biết rồi! Khổ lắm, nói mãi!” mà thằng bồi tiêm đã đếm được! Cụ nhắm nghiền đôi mắt, mơ màng nghĩ đến lục lụ khụ chống gậy, mặc bộ đồ xô gai, vưa ho khạc vừa khóc mếu sẽ làm cho ai cũng phải “ngợi khen một cái đam ma như thế, một cái gậy như thế!”.

Văn Minh chồng lấy làm hạnh phúc vì cái món lợi chia gia tài của Cụ tổ mang lại “cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Ông Phán mọc sừng chỉ nhờ “đôi sừng hươu vô tình trên đầu” mà ông được bố vợ là cụ cố Hồng sẽ chia thêm cho một số tiền là vài nghìn đồng. Ông sung sướng muốn gặp ngay ông Xuân để “trù tính ngay một công cuộc doanh thương”. Cô Tuyết tuy “đau khổ… muốn tự tử được” vì không thấy anh Xuân đến đưa ma, nhưng cô cũng không kém phần hạnh phúc như mọi người khác. Tuyết mặc bộ y phục “Ngây thơ” với”vẻ buồn lãng mạn” đi mời trầu cau và thuốc lá các quan khách, để cho thiên hạ phải biết rằng “mình chưa đánh mất cả chữ trinh”.

Có vai hề là bầy con cháu! Có vai hề là những quan khách. Là bạn của cô Tuyết, bà Văn Minh, cô Hoàng Hôn, bà Phó Đoan vân vân, những “giai thanh gái lịch” đến đưa tang là để “chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau,…”. Là những người bạn của cụ cố Hồng đến đưa ma Cụ tổ “ngực đầy những huy chương như Bắc đẩu bội tinh, Long bội tinh… để khoe tài, khoe đức” (!), với những bộ râu ria “hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen, hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quoăn…”. Ngòi bút biếm họa của Vũ Trọng Phụng thật hiếm có. Ông đã làm cho độc giả phải ôm bụng mà cười về những bộ râu ấy!

Sụ cụ Tăng Phú với ông Xuân – cố vấn báo Gõ mõ đến đưa tang giữa đường, với sáu chiếc xe, xe nào cũng che hai lọng có hai vòng hoa đồ sộ. Sư cụ Tăng Phú “sung sướng và vênh váo ngồi trên một chiếc xe” vì đây là “cuộc đắc thắng đầu tiên của báo Gõ mõ” đã đánh đổ được Hội Phật giáo. Còn Xuân Tóc Đỏ đã được Tuyết “liếc mắt đưa tình cho nó để tỏ ý cảm ơn!”. Hắn đã làm cho bà cụ Hồng cảm động cực độ, sung sướng kêu: “Ấy giá không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi!”. Đó là cảnh hài sao không đáng cười được! Cảnh hạ huyệt mới thật sự là một cảnh trong vở bi hài kịch. Cậu Tú Tân luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng, với chiếc máy ảnh trong tay, cậu bắt bẻ từng người một, hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc cong lưng… để cậu chụp ảnh lúc hạ huyệt! Cụ cố Hồng thì “mếu máo và ngất đi!”. Ông Phán mọc sừng “oặt người đi, khóc mãi không thôi: “Hứt!… Hứt!… Hứt!…”. Thế nhưng ông ta rất tỉnh táo đã bí mật dúi vào tay Xuân tờ bạc 5 đồng gấp tư để “giữ chữ tín” và cũng là để “tri ân” người đã đem đến cho mình món lợi to!

Vũ Trọng Phụng đã sử dụng biến hóa nhiều thủ pháp châm biếm trào phúng cay độc. Lúc thì phóng đại, lúc thì biếm họa. Có cử chỉ đáng cười! Có ngôn ngữ buồn cười! Có cảnh gây cuời! Từ tang chủ, bọn con cháu đến quan khách, tất cả đều trở thành những vai hề. Vì thế mới có hình ảnh “người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng nếu không gật gù cái đầu…”.

Qua chương “Hạnh phúc của một tang gia”, ta thấy được nghệ thuật trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng trong “Số đỏ”. Tiếng cười trên trang văn của ông có giá trị tố cáo mãnh liệt, đả kích sâu cay cái nhố nhăng, đồi bại của xã hội thực dân phong kiến tư sản, cái xã hội “khốn nạn”, “chó đểu” như ông đã phỉ nhổ, nguyền rủa.

Thật vậy, cái chết và đám ma Cụ tổ là một vở bi hài kịch, vừa đáng khóc, vừa đáng cười, nhưng cái đáng cười là chủ yếu!

 

TAG: phan tich tac pham hanh phuc cua mot tang gia

Nguồn: Online News – Tin tức Online
 

Các bài khác

Kiểu tóc xoăn ngắn đẹp

Tóc xoăn ngắn tạo cảm giác thoải mái và cá tính nhưng nếu không biết cách tạo kiểu cũng dễ khiến gương mặt trở nên cứng nhắc và mất đi sự gợi cảm. Hãy cùng xem những người đẹp tạo dáng thế nào cho mái tóc xoăn ngắn của họ.

Diễn viên, ca sỹ Hoàng Thùy Linh

Trong sê ri bộ  phim “Nhật kí Vàng Anh”, Hoàng Thùy Linh luôn hiện lên với mái tóc buông dài và suôn thẳng thể hiện sự hồn nhiên trong sáng của lứa tuổi học trò. Nhưng khi clip sex không mong muốn bị phát tán thì sau một thời gian ngắn người ta thấy Hoàng Thùy Linh xuất hiện trên sân khấu ca nhạc với mái tóc xoăn dài cùng các điệu nhảy bốc lửa.

 

Hoàng Thùy Linh mới lạ và sexy với mái tóc ngắn.

Tuy nhiên đến cuối năm 2009 bất ngờ Hoàng Thùy Linh “mất tích” không một lý do khiến nhiều người đinh ninh rằng hot girl đình đám một thời quyết định từ giã làng giải trí. Nhưng ngay đầu năm mới sự trở lại đột ngột và khá hoành tráng của Hoàng Thùy Linh đã khiến nhiều người ngỡ ngàng. Đặc biệt là với mái tóc xoăn ngắn trông Linh thật mới lạ, trẻ trung và dường như độ sexy và gợi cảm thì ngày càng nóng bỏng hơn.

Á hậu Ngọc Oanh

Sau khi đăng quang Á hậu tại cuộc thi Hoa hậu Việt Nam năm 2002 dường như Ngọc Oanh luôn trung thành với mái tóc dài ngang vai dù để ép thẳng hay làm xoăn bồng bềnh. Nhưng sau gần tám năm trung thành với mái tóc dài thì người đẹp này lại muốn làm mới hình ảnh của mình trong lòng người hâm mộ. Và ngay khi xuất hiện trước công chúng với mái tóc xoăn ngắn, Ngọc Oanh đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ khán giả và đồng nghiệp.

 

Ngọc Oanh trông trẻ trung và xinh đẹp hơn so với độ tuổi gần 30 của cô.

Có thể khẳng định rằng với hình ảnh mới, Ngọc Oanh trông trẻ trung và xinh đẹp hơn so với độ tuổi gần 30 của cô. Ngoài ra Ngọc Oanh còn được biết đến và gây được ấn tượng với khán giả bởi sự thông minh sắc sảo mà không hề phải dựa vào scandal để nổi tiếng.

Diễn viên Ngô Thanh Vân

Từng là một trong những siêu mẫu hàng đầu của sàn catwalk, Ngô Thanh Vân luôn biết cách biến hóa và gây ấn tượng trước khán giả. Nhưng suốt thời gian gắn bó với thời trang và ngay cả khi lấn sang sân khấu ca nhạc thì người đẹp này vẫn luôn trung thành với mái tóc dài ngang vai.

 

Sau “Bẫy rồng”, Ngô Thanh Vân kết kiểu tóc xoăn ngắn.

Nhưng từ khi tham gia bộ phim “Bẫy rồng” thì Ngô Thanh Vân đã thay đổi bằng mái tóc ngắn đầy cá tính. Khi bộ phim kết thúc và đã được công chiếu tại các rạp khá lâu nhưng Ngô Thanh Vân dường như vẫn “kết’ kiểu tóc mới này. Cô vẫn liên tục xuất hiện với bạn diễn Jonny Trí Nguyễn trong nhiều sự kiện với mái tóc xoăn ngắn mà vẫn giữ được sự sang trọng và gợi cảm.

Siêu mẫu, diễn viên Thanh Hằng

Siêu mẫu sở hữu  đôi chân dài nhất Việt Nam – Thanh Hằng từ lâu đã gắn bó với mái tóc ngắn kiểu Vic khá đơn giản nhưng vẫn giữ được sự trẻ trung, gợi cảm. Đặc biệt khi cô mang kiểu tóc này tham gia vào vai diễn chính trong bộ phim “ Nụ hôn thần chết” đã tạo nên xu hướng yêu thích kiểu tóc này trong gi

 Thanh Hằng quyến rũ và sang trọng hơn với kiểu tóc mới.

Tuy nhiên để làm mới hình ảnh mình cho vai diễn trong “Những nụ hôn rực rỡ”, ngoài những lúc để tóc thẳng Thanh Hằng cũng khá hợp với kiểu tóc ngắn xoăn. Với kiểu tóc này khiến cho khuôn mặt Thanh Hằng trở nên quyến rũ và sang trọng hơn.

Người mẫu, MC Vân Anh

Khởi nghiệp từ vai trò người mẫu nhưng Vân Anh được khán giả biết  đến nhiều hơn qua vai diễn đanh đá trong bộ phim “Bỗng dưng muốn khóc”. Dù vào vai khá ghê gớm song Vân Anh vẫn chỉ giữ kiểu tóc dài ngang vai truyền thống.

 

Vân Anh cá tính và năng động

Tuy nhiên, gần đây người đẹp này cũng đã bắt kịp với xu hướng khi thay đổi mái tóc của mình sang xoăn ngắn. Với kiểu tóc mới Vân Anh trở nên cá tính và năng động hơn.

 

TAG: kieu toc xoan ngan

kieu toc xoan ngan dep

kiểu tóc xoăn ngắn

Nguồn: OnlineNews.vn
 

Các bài khác

Cái giá của khát vọng và hạnh phúc

Tiểu thuyết “Ông già và biển cả” mang vẻ đẹp nhân văn. Là bản anh hùng ca ca ngợi con người và sức lao động của con người. 

Cuộc đời chỉ có sắc màu ý nghĩa: sống phải có khát vọng. Cái giá của khát vọng và hạnh phúc ở đời là thước đo tầm vóc của con người chân chính. 
Phân tích tác phẩm ông già và biển cả ngắn gọn cảnh “Đương đầu với đàn cá dữ” 
Sau 87 (84 + 3) ngày đêm ra khơi đánh cá, ông lão Xanchiagô mới câu được con cá kiếm khổng lồ, nặng độ 6, 7 tấn, dài hơn chiếc thuyền câu khoảng 7 tấc. Đói khát, mệt rã rời, đôi tay bị dây câu do cá kéo cứa rách, ứa máu. Cái giá phải trả cho một chuyến ra khơi thật đáng tự hào. Bạn chài chắc sẽ không chế giễu lão về vận xúi quẩy nữa! Lão càng tự hào về “sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu!” 

Dan: phan tich tac pham ong gia va bien ca

Một dấu ấn sâu đậm trong kí ức

Phân tích tác phẩm Rừng xà nu là tác phẩm để lại một dấu ấn sâu đậm trong kí ức mỗi chúng ta . Nguyễn Trung Thành được coi như là nhà văn của Tây Nguyên theo đúng nghĩa của nó . Cả cuộc đời ông sống, chiến đấu và gắn bó với núi rừng , với đồng bào Tây Nguyên dù ông không hề được sinh ra trên mảnh đất này . Ông cũng chính là người phản ánh một cách sinh động đời sống, tính cách và tâm hồn đồng bào Tây Nguyên trong tác phẩm của mình , và phần Tây Nguyên đó được đánh giá là hay nhất trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn .

Với vốn sống phong phú và một sự gắn bó đến kì lạ, mảnh đất Tây Nguyên đi vào tác phẩm của Nguyễn Trung Thành một cách tự nhiên, chân chất như cái bụng của đồng bào các dân tộc anh em nơi đây, và một trong những sáng tạo nghệ thuật để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc là Rừng xà nu . Tác phẩm không chỉ đề cập đến lòng yêu nước quật cường, tinh thần đấu tranh không mệt mỏi của đồng bào Tây Nguyên trong cuộc trường kì kháng chiến chống Mĩ , mà quan trọng hơn, khắc hoạ chân dung những con người anh dũng đã chiến đấu vì lí tưởng, trong mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên núi rừng .
Trich: phan tich tac pham rung xa nu